Giới thiệu di tích lịch sử

Di tích lịch sử, Lễ hội trên địa bàn phường Võ Cường

22/09/2025 16:43 View Count: 500

Võ Cường Có 21 Lễ Hội truyền thống và 01 Lễ hội vật được tổ chức từ tháng giêng âm lịch, và rải rác các tháng 4, 6,7,8,9 và tháng 12 hàng năm, mục đích của các lễ hội này là: Gắn kết cộng đồng, nhân dân ở mỗi khu phố sống đoàn kết lại, cầu mong đức Thành Hoàng Làng che trở, phù hộ độ trì cho nhân dân được một mùa màng tốt tươi, gặp nhiều may mắn, cầu lộc, cầu tài, cầu bình an, khởi đầu cho một năm mới thịnh vượng đến với mỗi khu….hơn hết là cầu cho quê hương đất nước luôn thanh bình phát triển….

  Theo các nghiên cứu văn hoá, trên vùng đất Bắc Ninh - Bắc Giang xưa có 49 làng quan họ gốc, thì phường Võ Cường có 7 làng là nay là các khu Hoà Đình, Bồ Sơn, Khả Lễ, Xuân ổ, Dương ổ, Đào Xá, Châm Khê đều là làng quan họ gốc và 02 làng quan họ thực hành là làng quan họ thực hành khu 5,6 và khu 10. Các hoạt động quan họ được duy trì và phát triển mạnh mẽ, hàng năm tham gia các cuộc thi do thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tổ chức đều giành các giải cao, không kém bất kì làng quan họ nào trong tỉnh. Đặc biệt các liền anh, liền chị làng Hoà Đình, là những người khởi xướng đầu tiên việc hát quan họ qua điện thoại cho những người yêu mến quan họ, như anh hai Quyến, chị Hồng... Võ Cường là một vùng quê có lễ hội truyền thống rất phong phú và hấp dẫn. Hội Xuân ổ (Hội Ó) mở ngày 5 tháng Giêng. Hội Khả Lễ (Hội Sẻ) mở ngày 6 tháng Giêng. Hội Hoà Đình (Hội Nhồi) mở ngày 7 tháng Giêng, Hội Bồ Sơn (Hội Bò) mở ngày 9 tháng Giêng. Hai làng Xuân ổ A, B thờ đức thánh Thiên Cang giúp Vua Hùng đánh giặc Ân. Bà Quý Minh, Tiền lộ tướng quân giúp nhà Trần phá giặc Nguyên Mông. Làng Hoà Đình thờ tướng quân Lê Phụng Hiểu, từng lập nhiều chiến công giúp nhà Lý. Làng Bồ Sơn thờ 3 vị Thành hoàng là: Quý Minh, Đình Đấng và Mỵ Nương từng giúp Vua Hùng đánh giặc Ân. Làng Khả Lễ thờ 3 vị Thành Hoàng làng là ông Nghiêm, ông Ích, ông Quảng có công đánh giặc thời Trần.

 Nhân dân Phường Võ Cường giữ gìn nét văn hóa qua các lễ hội truyền thống hàng năm……

 Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng với vùng quê Kinh Bắc - Bắc Ninh người dân Võ cường luôn tự hào, bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống của quê hương. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - UB MTTQ phường,  cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phường đã chủ động, tích cực khơi dậy các truyền thống quý báu của địa phương, khai thác hiệu quả, tiềm năng và thế mạnh của quê hương để không ngừng đổi mới và phát triển.

Những truyền thống văn hóa, văn hiến, yêu nước, cách mạng quý báu của ông cha đã được duy trì, giữ vững và ngày càng phát triển, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Khơi dậy và phát huy các truyền thống văn hóa, văn hiến, truyền thống yêu nước và cách mạng của phường, là nhiệm vụ quan trọng,  nhằm làm cho các giá trị truyền thống của phường gắn kết chặt chẽ, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trong việc xây dựng khối đại đoàn kết, huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của phường.

Từ đó làm chuyển đổi hành vi của người dân, cộng đồng, xã hội, trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống của địa phương, của dân tộc. Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống gắn với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở cơ sở, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn. 

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đều nhấn mạnh, “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.” Đồng thời, “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”. Vì thế mà việc xây dựng Đề án “Tiếp tục khơi dậy, giáo dục và phát huy truyền thống văn hóa, văn hiến, yêu nước và cách mạng của nhân dân Võ Cường” là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của phường trên con đường cùng toàn Thành phố Bắc Ninh trong sự nghiệp CNH - HĐH hôm nay.

Bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa, văn hiến, truyền thống yêu nước, cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ được nâng lên, góp phần hun đắp tình yêu quê hương, đất nước, làm nhân lên niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ XHCN. Những truyền thống văn hóa, văn hiến, yêu nước, cách mạng quý báu của ông cha đã và đang được duy trì, giữ vững và ngày càng phát triển, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng và hình thành nếp sống văn hoá, nhân cách tốt đẹp, thực sự là động lực to lớn để vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước.

Di tích trên địa bàn phường Võ Cường

Hiện nay trên địa bàn phường Võ Cường có hàng trục Di tích lịch sử văn hóa trong đó hiện có 11 ngôi đình, 10 ngôi chùa, 03 ngôi đền, 04 ngôi miếu, 01 ngôi nghè, 11 điếm thờ ở các ngõ xóm, tập chung chủ yếu tại Xuân Ổ A, Xuân Ổ B….ngoài ra còn có một số từ đường của một số dòng họ trên địa bàn...). Trong số các di tích trên, có 02 di tích lịch sử cấp quốc gia, một là đền bà quý Minh, 1 là di chỉ khảo cổ học chùa lái Thuộc Xuân Ổ B, 2 là Cụm di tích Đình, Đền, Chùa Xuân Ổ, thuộc khu Xuân Ổ A và 06 di tích cấp lịch sử văn hóa cấp tỉnh….

Các di tích đều chứa đựng các giá trị lịch sử - văn hóa của quê hương Võ Cường.

1. Di tích khảo cổ chùa Lái: Di tích khảo cổ chùa Lái do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Sở Văn hóa Thông tin Hà Bắc phát hiện khai quật vào những năm 1974 – 1976.

Di tích này thuộc khu vực chùa Lái, hiện vật thu được ở đây chủ yếu là đồ gốm, đồ đá có niên đại cách nay khoảng 3000 năm. Kết quả khai quật đã minh chứng Xuân Ổ là một trong những điểm tụ cư của người Việt cổ.

Chùa có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm: Tiền đường 5 gian; Thượng điện 5 gian. Hiện nay trong chùa còn giữ được một số pho tượng gỗ cổ và một bia đá dựng khắc năm 1841.

2. Chùa Nương Xá: Chùa Nương Xá thuộc làng Xuân Ổ B (phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh).

Chùa được dựng năm 1917 theo kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian Tiền đường và 3 gian Thượng điện có trạm khắc hình hoa lá công phu, nghệ thuật. Chùa hiện nay còn bảo lưu một số pho tượng gỗ cổ và một bia đá.T.M

3. Đền Thượng Xuân Ổ A: (Đền bà Quý Minh): Đền Thượng nằm tại phía đông nam của làng Xuân Ổ A, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Đền được dựng vào thời Trần ngay trên phần mộ của bà Qúy Minh, người có công đánh giặc Nguyên – Mông.

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20879267/21113188/%C4%90%E1%BB%81n+th%C6%B0%E1%BB%A3ng+Xu%C3%A2n+%E1%BB%94+A.gif/16b56306-2e32-4dc1-9e96-8b0608f507f5?t=1560452500987

Trải qua các thời kỳ lịch sử đền đã được tu sửa nhiều lần. Đền có kiến trúc kiểu chữ nhị gồm Tiền tế và Hậu cung. Hiện tại trong đền vẫn còn lưu giữ được 8 đạo sắc phong của các triều vua phong tặng bà Qúy Minh.

4. Nghè tả Xuân Ổ A: Thôn Xuân Ổ A, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh có 2 Nghè, Nghè thứ nhất nằm ở phía tây của làng, ngay cạnh quốc lộ 1A.

Theo thần phả, sắc phong, nghè thờ Tiền lộ tướng công người có công đánh giặc và âm phù cho dân làng.

Nghè thứ 2 thờ Thánh Thiên Cang là người đã có công đánh giặc vào thời Hùng Vương. Công trình được khởi dựng từ lâu đời, nhưng qua các thời kỳ lịch sử đã bị phá. Hiện tại, ở đây còn giữ được 7 đạo sắc phong vào các năm: 1846, 1850, 1880, 1887, 1909, 1924 và 1925.

5. Đền Hòa Đình: Đền Hòa Đình nằm ở phía tây làng Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20879267/21113188/%C4%90%E1%BB%81n+H%C3%B2a+%C4%90%C3%ACnh.gif/39c8d893-24b4-4096-a18b-ed82476a1062?t=1560452500772

Đền được xây dựng từ thời Lý với kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm tòa Tiền tế 5 gian, bộ khung gỗ lim vì kèo kiểu giá chiêng, Hậu cung 3 gian kết cấu đơn giản. Đền giữ được những cổ vật vô giá như tấm bia đá “Thần phả” ghi khắc rõ về lịch sử ngôi đền, thành tích, công trạng của người được thờ và nhiều thông tin khác về lịch sử, văn hóa của thời Lý. Ngoài ra, đền còn giữ được những đồ thờ tự niên đại từ thời Lê – Nguyễn như: Kiệu thờ, hậu bành, hoành phi, câu đối. 

6. Chùa làng Hòa Đình: Chùa nằm ở phía Tây của làng Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

Trong kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị phá hủy, đến năm 1995, nhân dân địa phương đã dựng lại chùa trên nền đất cũ với kiến trúc nhà Tam bảo 5 gian, bộ khung gỗ theo kiểu thức truyền thống; xung quanh chùa còn dựng thêm nhà thờ Tổ, nhà Mẫu, Tam quan. Ở đây còn giữ được những cổ vật quý giá như: những pho tượng cổ và 3 tấm bia hậu dựng khắc vào các năm:

7. Đình làng Bồ Sơn: Đình Bồ Sơn thuộc làng Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

Đình vốn có từ lâu đời, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình đã bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 2000, đình được nhân dân xây dựng lại. Đình có cấu trúc phần mái bằng gỗ tứ thiết, phần chịu lực bằng bê tông giả gỗ. Trong đình vẫn còn lưu giữ được một số cổ vật như: đồ thờ tự, thần phả… Đình thờ 3 vị thần là: Qúy Minh, Đông Bính và Vy Vương.

8. Chùa làng Bồ Sơn(Chùa Đại Giác Tự): Chùa Bồ Sơn Sơn thuộc làng Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20879267/21113188/ch%C3%B9a+%C4%90%E1%BA%A1i+gi%C3%A1c+t%E1%BB%B1.gif/d32ed794-d579-4fd2-a941-7121b5a18552?t=1560452500176

Chùa được khởi dựng từ lâu đời, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp chùa bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1996, chùa được nhân dân trong làng dựng lại…

Lịch sử Chùa Đại Giác tự (Bồ Sơn Võ Cường, Tp.Bắc Ninh):

Chùa Đại Giác tự được xây dựng trên núi Bồ Sơn (Nay thuộc khu Bồ Sơn phường Võ Cường Tp.Bắc Ninh) trước đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng là có cảnh quan đẹp. Trong thời kỳ Hòa thượng Phúc Điền trụ trì ở đây, ngài đã tổ chức san khắc ván in kinh sách của Phật giáo và một số sách khác. Những kinh sách mà Hòa thượng Phúc Điền tổ chức san khắc tại chùa Bồ Sơn là:

- Dược sư kinh

- Diệu pháp liên hoa kinh

- Thiền uyển kế đăng lục (gồm quyển tả và quyển hữu). Bộ ván khắc này có kích thước 36 x 25 cm, các con chữ trong bộ ván khắc tương đương với cỡ chữ 28 font Chu Hán Khải của bộ gõ chữ Hán hiện nay. Trong bộ ván khắc này, có nhiều ván khắc tranh các vị Hòa thượng được đề cập trong đó ở tư thế khác nhau với nét khắc rất sống động.

Tiếp tục truyền thống san khắc mộc bản của thầy nghiệp sư là Hòa thượng Phúc Điền, thiền sư An Thiền sau đó tổ chức san khắc bộ Đạo giáo nguyên lưu (Khắc năm Thiệu trị thứ 5 - 1845) gồm 332 tấm ván khắc. Hiện nay, tất cả các bộ mộc bản rất quí giá này ở chùa Đại Giác đều không còn.

9. Đền Khả Lễ:  Đền Khả Lễ nằm ở đầu làng Khả Lễ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa bị phá hủy hoàn toàn, đến năm 1945 địa phương đã xây dựng lại chùa với 3 gian Tiền đường, Hậu cung. Đền thờ 3 vị thần là Chánh Đạo, Nghiêm Trị, Quảng Pháp.

10. Chùa làng Khả Lễ: Chùa làng Khả Lễ nằm trên núi Sẻ, làng Khả Lễ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Chùa được dựng từ lâu đời, đến năm 1912 chùa được tu bổ và dựng lại tòa Tiền đường.

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20879267/21113188/%C4%90%C3%ACnh+Kh%E1%BA%A3+l%E1%BB%85.gif/85f65d2a-9550-4f98-9a0b-088dae25684c?t=1560452501291

Chùa có kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm: Tiền đường 5 gian với bộ khung gỗ lim to khỏe vững chắc và bề thế. Hiện nay, chùa còn bảo giữ được một số pho tượng thời Lê - Nguyễn, tiêu biểu là pho ADI Đà và một số tượng tổ.

 

         11. Đình Dương Ổ

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20881541/21213505/%C4%90%C3%ACnh+d%C6%B0%C6%A1ng+%E1%BB%95.gif/675ded52-370f-4870-9cc2-2edd15d7b4be?t=1561105279093

tọa lạc giữa làng, nhìn về hướng Đông Nam. Căn cứ vào các tài liệu, hiện vật ở địa phương thì đình được xây dựng từ thời Lê. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Dương Ổ bị phá hủy. Năm 1994, đình Dương Ổ được phục hồi tại vị trí cũ. Đình được xây dựng theo phong cách truyền thống, kết cấu 4 mái, 6 đao cong, trên bờ nóc gian giữa đắp rồng chầu mặt nguyệt. Đình có kết cấu chữ Đinh (J), 3 gian 2 chái Tiền tế, 2 gian Hậu cung, phía trước lập hệ thống cửa chắn song con tiện. Bộ khung đình được cấu thành bởi các cấu kiện gỗ khỏe, cột cái chu vi 1,6 mét. Đình Dương Ổ cũng được trang trí chạm trổ theo phong cách xưa.

Hiện vật ở đình bao gồm hệ thống hoành phi, cấu đối, bát biểu, ngựa gỗ, hương án gỗ… đều là những hiện vật cổ. Đặc biệt đình còn lưu giữ tấm bia đá “Hậu Thần bi ký” dựng năm 1702, 7 đạo sắc phong thời Nguyễn phong tặng cho vị thần ở đình là Đức Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát).

Đền làng Dương Ổ: nằm kề bên bờ sông Ngũ Huyện Khê, được khởi dựng vào thời Lê, quy mô và hiện trạng khá nguyên vẹn. Đền gồm 2 tòa song song theo kiểu chữ Nhị. Tòa Tiền tế gồm 3 gian 2 trái, kiến trúc kiểu 4 mái, mỗi gác mái một đầu đao cong, mái thấp, hiên rộng, nền vỉa đá tảng, lát gạch vuông. Các bộ vì theo kiểu thượng chồng giường, hạ kẻ trường cột phân 4 hàng ngang dọc. Đền thượng 3 gian 2 chái và Hậu cung. Về cơ bản kiến trúc giống tòa Tiền tế nhưng tòa này chia làm 2 tầng. Nghệ thuật chạm khắc trang trí mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn, đều tập trung ở các xà ngang, xà nách, đầu dư, con chồng, đề tài chủ đạo là rồng mây và chạm nổi mang đậm nét của nghệ thuật thời Lê. Nét độc đáo ở đây là nghệ thuật chạm trổ trên các xà ngang, mỗi xà hai con rồng khắc nổi dài bằng cả cây xà 3 mét đang vươn mình vượt lên những đám mây tưởng như những đôi rồng đang gồng mình nâng cả ngôi đền đồ sộ lên.

Đền làng thờ Đức Thánh Tam Giang, tư liệu về các vị thần tập trung ở các bức hoành phi, câu đối gỗ được tạo tác vào thời Thành Thái (1889- 1907) và Duy Tân (1910). Đền có ngai thờ, bài vị, sập thờ, hương án, chóe thờ, hạc gỗ cao to, bảng văn… đều có niên đại thời Lê và Nguyễn. Đặc biệt đền còn lưu giữ lọ độc bình và chóe thờ- sản phẩm gốm của nhà Thanh (Trung Quốc). Tại khu vực đền có hàng chục cây cổ thụ niên đại trên 100 năm. Năm 2002, đền Dương Ổ được xếp hạng “Di tích lịch sử nghệ thuật” cấp quốc gia.

Chùa làng Dương Ổ (có tên là Hồng Ân tự). Chùa nằm cùng khuôn viên với đình. Tài liệu văn bia cho biết ở thế kỷ 17 chùa Hồng Ân đã là một trung tâm Phật giáo và có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp chùa bị phá hủy. Năm 1996- 1997, nhân dân địa phương và phật tử cung đức xây dựng chùa như hiện nay.

Chùa có bình đồ kiến trúc chữ Đình (J), 3 gian 2 chái Tiền đường và 3 gian Thượng điện. Bộ mái tòa tiền đường cấu trúc kiểu chồng diêm mái chảy, 4 mái với 8 đầu đao cong. Bộ khung nhà cấu trúc theo phong cách truyền thống. Phía sau tòa tam bảo của chùa là 5 gian nhà Tổ.

Giá trị cơ bản của chùa Hồng Ân hiện nay là những di vật cổ của chùa: Quả chuông “Hồng Ân tự chung” đúc năm 1802, 4 tấm bia đá dựng tại vườn chùa dựng khắc vào các năm 1702, 1750, 1754, 1828, nội dung ghi việc hậu phật và một số tấm gia “Ký tự bi” (gửi giỗ) có niên đại từ thời Nguyễn.

Chùa Vạc: còn có tên là Sùng Ân tự. Chùa nằm phía Tây Bắc của làng. Chùa có kết cấu kiến trúc chữ Nhị, tòa tam bảo 3 gian có phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, tại đây còn 3 pho tượng Tam thế cổ chất liệu gỗ tạo tác vào thời Nguyễn. Tại khu vực chùa Vạc có một cây cổ thụ trên 400 tuổi.

12. Nghè Dương Ổ

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20881541/21213505/nghe+d%C6%B0%C6%A1ng+%E1%BB%95.gif/d21af8d2-b4e2-4e83-8dec-20eb004965f1?t=1561105279369

mái cong tĩnh mặc dưới chân cầu nước lững lờ trôi, nơi đây thời tướng quân Trương Hống, Trương Hát. Đình làng Dương Ổ cổ kính có tam quan đẹp nhất vùng. Đình làng Sái (huyện Đông Anh- Hà Nội) đã từng học mẫu ở đây. Đình thôn Đào Xá bề thế có kiến trúc sắc nét và độc đáo([1]). Chùa Đào Xá rêu phong là chốn danh lam cổ kính sơn thuỷ hữu tình long hổ đăng đôi, tượng phật sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Đình Châm Khê nay vẫn còn nguyên vẹn là một kiến trúc cổ có giá trị. Cảnh quan bố trí hài hoà với cây đa, bến nước, càng làm tăng thêm chất khí quê hương.

Dương Ổ có làn điệu dân ca quan họ đặc sắc điệu “Hừ la”… và cũng có tục kết bạn, tục “ngủ bọn”. Con người nơi đây chẳng những yêu lao động, sản xuất mà còn đậm chất trữ tình

Hỡi cô thắt dải bao xanh

Có về Dương Ổ với anh thì về

Dương Ổ có lịch có lề

Có ao tắm mát, có nghề sen can

Người ta đúc tượng xây chùa

Còn em seo giấy bốn mùa chẳng ngơi

Dám xin sư bác chớ cười

Vì em seo giấy cho người chép kinh

Người ta buôn vạn bán ngàn

Em đây seo giấy cơ hàn vẫn tươi

Dám xin ai đó chớ cười

Vì em seo giấy cho người đề thơ.

13. Chùa Châm K

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20881541/21213505/ch%C3%B9a+ch%C3%A2m+kh%C3%AA.gif/78507626-b27d-41ab-a7bb-ec2d16893d48?t=1561105278632

 

còn có tên là Thiên Phúc tự hay chùa Bùi, thời Duy Tân thứ 2, kiến trúc chùa hiện nay đều mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê và Nguyễn.

Các hạng mục kiến trúc của chùa Châm Khê bao gồm: tòa Tam bảo, nhà điện, nhà khách. Tòa Tam bảo kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) là sự liên kết của hai tòa: Tiền đường 5 gian và Thượng điện 3 gian. Trên thượng lương tòa Tiền đường ghi niên đại tu sửa vào năm 1908. Tòa điện (nhà Mẫu) 4 gian, nhà khách 5 gian và các bức cốn, đầu dư, nghé bẩy tòa Tam bảo chạm khắc đề tài rồng mây, hoa cúc, cây cỏ… mang đặc trưng kiến trúc nghệ thuật thời Lê và nguyễn.

Hiện vật của chùa bao gồm: 6 bức đại tự, 4 đôi câu đối, hệ thống tượng gỗ cổ 30 pho có niên đại thời Lê và Nguyễn. Trong đó có toàn Cửu Long, tòa Quan Âm Thiên thủ Thiên nhỡn là những tác phẩm kỳ công điêu luyện. Một tấm bia đá “Nam Giáp bi truyền” dựng năm 1730, một cây hương đá dựng năm 1687, 2 sắc phong thần do vua Gia Long phong cho Mẫu Liễu Hạnh vào năm 1809 và vua Tự Đức phong năm 1850. Quả chuông đồng lớn cao 1,3 mét được đúc vào năm 1842, đây là quả chông vốn của chùa Linh Am cổ được đưa về bảo quản tại chùa Thiên Phúc.

Chùa Đông: còn có tên gọi là Linh An tự, có tên chữ là Linh Khánh tự. Chùa Đông là gọi theo tên xóm vì chùa ở xóm Đông, thuộc phía Đông Bắc của làng Châm Khê. Xưa chùa nằm sát đê sông Ngũ Huyện Khê, do yêu cầu tu bổ đê, chùa bị lấn dần. Năm 1996, địa phương di chuyển chùa về vị trí hiện nay.

Linh Khánh tự vốn được khởi dựng vào thời Lê, tu bổ vào thời Nguyễn. Chùa hiện nay kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) gồm 3 gian Tiền đường và Thượng điện. Chùa có đại tự, câu đối, 2 pho tượng gỗ có niên đại thời nguyễn là tượng Thích Ca và tượng Đức Ông, một quả chuông đồng bảo quản ở chùa Thiên Phúc.

Châm Khê là một trong nhiều làng Quan họ gốc của tỉnh Bắc Ninh, có nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong vùng, có các làn điệu “la rằng”, “ngồi tựa song đào”… Châm Khê có tục hát Quan họ dưới thuyền từ cổ, nó mang tính chất diễn xướng nghi lễ của ngày hội chùa làng. Trước ngày tắm Phật 5 ngày, tất cả các bọn Quan họ trong làng đều phải tham gia đám rước từ giếng đền Mẫu lên chùa. Đền Giếng nằm ở bãi soi giữa sông Ngũ Huyện Khê. Thuyền rồng chở hai cái chum to ra bãi soi. Chỉ huy đám rước là một cụ già, chèo thuyền rồng bắt đầu khởi hành, cũng là lúc từng đôi thuyền nan (một thuyền toàn nam, một thuyền toàn nữ Quan họ) từng đôi quay mặt vào nhau vừa bơi, vừa hát Quan họ. Khi thuyền rồng ra đến giếng đền, người ta khiêng chum đặt gần bờ giếng. Lúc đó trai gái Quan họ dàn thành hai hàng dọc, múc nước từ giếng rồi vừa chuyền tay nhau đổ vào chum, vừa hát Quan họ. Khi thuyền rồng chở nước đã về chùa để tắm Phật nhưng nam nữ Quan họ vẫn ngồi trên thuyền nan, vẫn dặt dìu hát với nhau đến khuya. Hát Quan họ trên thuyền như thế được kéo dài cho đến ngày giã hội.

14. Chùa Đào Xá:

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20881541/21213505/ch%C3%B9a+%C4%91%C3%A0o+x%C3%A1.gif/101e6453-cd64-4095-9992-a233152a5bff?t=1561105278845

còn có tên là Phúc Thọ tự, thờ bà Đỗ Thị Ngọc Thám hiệu Diệu Biện quê Bà ở Phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, xã Cổ Linh. Theo văn bia “Tạo lập hậu thần bi” dựng vào mùa đông năm Cảnh Trị thứ 9 (1671) ghi: “Bà là cung tần trong chính vương nội phủ được tuyển xung là kỹ nữ. Vua sùng ái hơn tất cả. Năm Canh Dần, Bà ban phát gia tài cho dân, lại cung đức bạc tiền vào chùa. Toàn dân hứa rằng từ nay về sau muôn đời phải cúng lễ 4 mùa, bèn khắc vào bia lưu truyền mãi mãi”. Trong chùa có bệ thờ tượng Pháp Vân, Pháp Vũ…”, tượng: Tam Thế, Thích Ca, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Di Lặc, Chuẩn Đề, Tòa Cửu Long, Sư Tổ, Quan Âm Thị Kính và một số thi giả, họ pháp. Trong điện Mẫu thờ đức Thánh Trần, Tam tòa Thánh Mẫu, 3 vị Tôn ông, 5 vị Đồng nữ.

Ngoài ra ở hai cột đồng trụ khác ở trước nhà tiền đường có 6 bức tranh (mỗi bên 3 bức) mô tả cảnh thầy trò Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh. Chùa có một quả chuông tên là Phúc Thọ tự chung, đúc vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) và 5 tấm bia đá. Một tấm dựng vào năm Chính Trị thứ 8 (1670); một tấm dựng vào mùa đông năm Chính Trị thứ 9 (1671); một tấm dựng vào năm Chính Hòa thứ 3 (1682); một tấm bia nói về việc làm đường đá, dựng vào tháng Giêng năm Mậu Dần, niên hiệu Chính Hòa thứ 3 (1698); một tấm dựng vào năm Tân Mùi, niên hiệu Chính Hòa (1691).

Hệ thống tượng Phật chất liệu gỗ có 23 pho, có niên đại từ thời Lê và Nguyễn, xen kẽ là các đồ thờ cổ chất liệu gốm sứ, gỗ. Quả chuông đồng lớn cao 1,2 mét “Phúc Thọ tự chung” được đúc vào năm 1845. Bên phải là hệ thống bia đá “Hậu thần bi ký”, “Thừa tự bi ký” được dựng khắc vào năm 1670, 1671, 1680, 1705 và 5 tấm bia có niên đại thời Nguyễn vào các năm 1876, 1901, 1902, 1904, 1940 (bia ghi công đức của Đỗ Thị Ngọc Thám, người có công xây dựng chùa được thờ hậu khắc năm 1670- 1671).

15. Nghè Thượng Thần

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20874479/21151225/ngh%C3%A8+th%C6%B0%E1%BB%A3ng+khu+1.gif/249252e5-719c-4d5e-b6b7-1f7107ccbf81?t=1560786884689

Thuộc khu phố 1, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh. Đây là công trình văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương được khởi dựng từ lâu để thờ Thành hoàng làng – là người có công với dân, với nước. Đến khoảng giữa thế kỷ XIX, nghè được trùng tu tôn tạo bởi sự hảo tâm công đức của dân làng và cụ Pháp Thông (cháu đời thứ 6 của Nguyễn Phúc Xuyên). Nghè Thượng Thần đã được xếp hạng cấp tỉnh. Quyết định số 161/QĐ-CT, ngày 08/02/2002.

- Nhân vật được thờ

Theo thần tích nghè Thượng Thần và những ngôi đình phường Đại Phúc đều cùng thờ thần là “Ngũ Vị Đại vương” năm vị thần đều có tên là (Công Minh Chính Trực) sinh ra ở trang Ngọc Bội, động Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, các vị thần có công với nhà tiền Lý trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương vào thế kỷ VI.Có 10 đạo sắc phong thời Lê – Nguyễn  

16. Chùa Đồng Nhân (chùa Âm Hồn)

Chùa Đồng Nhân theo tài liệu văn bia tại chùa được biết, chùa khởi dựng năm 1877. Trải qua thời gian mưa lay gió động chùa đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Năm 2009 trùng tu chùa.

Chùa Đồng Nhân có nhiều giá trị về hệ thống tượng phật niên đại cuối thế kỷ XIX, 3 bia đá: bia “Đồng Nhân tự bi” do Nguyễn Cao soạn năm 1875, bia “Đồng Nhân tự bi ký” dựng năm 1910, bia “Hậu phật bia ký” cùng  nhiều đồ thờ tự như: đại tự, câu đối, chuông đồng… Ngôi chùa từ lâu đời là trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của biết bao thế hệ người dân quê hương nơi đây góp phần giáo dục và phát huy tình đoàn kết cộng đồng làng xã, giúp con người hướng thiện trừ ác.

17. Chùa Linh Sơn (Chùa Cao)

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20874479/21151225/ch%C3%B9a+linh+s%C6%A1n+khu+1.gif/17687152-7298-4e52-96b3-245ad506eed5?t=1560786883967

Chùa thuộc khu 1, phường Đại Phúc. Theo các tài liệu về cụ Nguyễn Phúc Xuyên thì chùa Cao có từ thế kỷ XV do thiền phái Trúc Lâm về xây dựng nhưng do nhiều biến cố lịch sử chùa đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần và có nhiều tăng sư nổi tiếng trụ trì. Chùa Linh Sơn còn lưu giữ được nhiều cổ vật là những di sản văn hoá vô giá như: Hệ thống tượng chân dung các vị sư tổ (trong đó có tượng cụ Nguyễn Phúc Xuyên), y môn, cuốn thư, hương án, mâm bồng, hoành phi, câu đối, ván in sách thuốc, bia đá, chuông đồng. Chùa đã được xếp hạng cấp tỉnh năm 1988.

18. Lăng quận công Bùi Nguyễn Thái

Lăng quận công Bùi Nguyễn Thái nằm ở sườn núi Vũ Sơn thuộc khu 1 phường Đại Phúc, được xây dựng vào năm 1753. Trải qua thời gian, lăng đã được tu bổ nhiều lần. Lăng quận công Bùi Nguyễn Thái là nơi phụng tưởng niệm danh thần có công với nước với dân, mang nhiều giá trị sử văn hóa. Lăng Bùi Nguyễn Thái đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật. Quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18/01/1988.

19. Văn chỉ khu 3 (Văn từ tổng Đỗ Xá)

Văn chỉ tổng Đỗ Xá được đặt trên núi Dinh thuộc địa phận xã Đại Vũ (sau đổi là Đại Tráng), nay thuộc khu 3 phường Đại Phúc, là nơi lưu danh các vị khoa bảng tổng Đỗ Xá, nhằm giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học ở địa phương, đồng thời còn là niềm tự hào của một vùng đất Nho học.

  • Nhân vật được thờ.

Theo cuốn “Văn hội bạ tổng Đỗ Xá”. Đây là cuốn tư liệu chữ Hán chép tay được sao lại năm Thành Thái thứ 3 (1891) gồm 22 trang khổ giấy 30cm x 20cm nội dung ghi chép về danh sách, quê quán các vị tiên nho của tổng thời phong kiến là Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài, Giám sinh, những quy định và nghi thức tế lễ hàng năm, những người công đức…của tổng Đỗ Xá.

20. Chùa Cốc

Chùa Cốc nằm ở khu 3, phường Đại Phúc, vốn là một ngôi chùa cổ, song đã bị phá hoàn toàn trong kháng chiến chống Pháp. Năm 2003 xây dựng tòa Tam bảo, nhà Mẫu. Hiện nay chùa đang được xây dựng tu bổ lại.

21. Đình Đông Thượng

Đình Đông Thượng, khu 4 phường Đại Phúc, TP Bắc Ninh được xây dựng từ lâu đời. Trải trường kỳ lịch sử, đến năm 1842 cụ Pháp Thông chùa Đồng Nhân cho tôn tạo lại. Năm 1886 đình được tu bổ tiếp, do con trai cụ Pháp Thông là Nguyễn Văn Đãng hưng công. Đình thờ đức Thánh cả, là một trong ngũ vị đại vương (Công Minh Chính Trực). Tương truyền các ngài quê Thanh Hóa, có công đánh giặc Lương phương Bắc. Sau khi thắng giặc có kinh lý qua địa phận nơi đây. Sau này các ngài hóa, nhân dân tưởng nhớ công lao lập đình thờ cúng (Thánh cả thờ ở Đình Thượng khu 4, Thánh hai, Thánh ba thờ ở đình Pheo khu 7, Thánh tư, Thánh năm thờ ở đình Lựu khu 5).

Đình được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 1294/QĐ-UBND, ngày 09/10/2006.

22. Đình Lựu

Đình Lựu khu phố 5, phường Đại Phúc được xây dựng vào thời Nguyễn (1848). Trải trường kỳ lịch sử ngôi đình đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Năm 1972, Đình bị hạ giải. Năm 2007 nhân dân địa phương khôi phục lại đình như hiện nay.

- Nhân vật được thờ

Đình thờ Thánh bốn, Thánh năm trong ngũ vị đại vương (Công Minh Chính Trực). Tương truyền các ngài quê Thanh Hóa, có công đánh giặc Lương phương Bắc. Sau khi thắng giặc có kinh lý qua địa phận nơi đây. Sau này các ngài hóa, nhân dân tưởng nhớ công lao lập đình thờ cúng

23. Đình Diên Thọ (Đình Ngang, đình Trung)

Theo các cụ cao niên trong làng thì đình được xây dựng từ lâu đời, đến thời Nguyễn được trùng tu sửa chữa. Đến những năm 1970 của thế kỷ trước, sàn đình đã bị dỡ đi làm thủy lợi và nhà kho HTX, tòa Tiền tế bị bán cho làng Phù Lãng (Quế Võ), chỉ còn lại Đại đình và Hậu cung. Năm 2003 nhân dân địa phương đã phục dựng lại tòa Tiền tế theo kiến trúc xưa trên nền móng cũ.

Đình được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 119/QĐ-CT ngày 20/01/2004.

- Nhân vật được thờ

Đình thờ ngũ vị đại vương (Công Minh Chính Trực). Tương truyền các ngài quê Thanh Hóa, có công đánh giặc Lương phương Bắc. Sau khi thắng giặc có kinh lý qua địa phận nơi đây. Sau này các ngài hóa, nhân dân tưởng nhớ công lao lập đình hương hỏa thờ cúng

24. Đình Pheo

http://tpbacninh.bacninh.gov.vn/documents/20874479/21151225/%C4%91%C3%ACnh+pheo.gif/4ce135b0-1957-4061-97b7-6da37121e7a7?t=1560786884257

Theo các cụ cao niên trong làng thì đình được xây dựng từ lâu đời, xưa thuộc thôn Đồng Pheo, xã Đại Tráng, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn. Trải trường kỳ lịch sử đình đã được tu bổ tôn tạo nhiều lần. Đến năm 1999 trung tu toàn bộ đình theo dáng vẻ như hiện nay.

- Nhân vật được thờ

Đình thờ Thánh hai và Thánh ba, trong ngũ vị đại vương (Công Minh Chính Trực). Tương truyền các ngài quê Thanh Hóa, có công đánh giặc Lương phương Bắc. Sau khi thắng giặc có kinh lý qua địa phận nơi đây. Sau này các ngài hóa, nhân dân tưởng nhớ công lao lập đình thờ cúng

25. Khu lưu niệm Nguyễn Phúc Xuyên (Đền thờ Nguyễn Phúc Xuyên)

Theo gia phả thì ban đầu đền là ngôi nhà do cụ Nguyễn Phúc Xuyên xây dựng, sau khi cụ mất ngôi nhà đã trở thành đền thờ. Năm 1768, cháu bốn đời ngành quý chi Nguyễn Quốc Giám cho sửa chữa lại. Di tích có quy mô bề thế qua nhiều lần sửa chữa, công trình hiện nay gồm: Toà thờ chính, lăng mộ của Nguyễn Phúc Xuyên, các dãy nhà Tả vu, Hữu vu, Cổng tam môn, vườn cây, ao cá.

Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia. Số 28 – VH/QĐ ngày 18/1/1988

26. Văn miếu Bắc Ninh

Theo sách Đại Nam nhất thống chí tập IV - Nhà xuất bản KHXH Hà Nội năm 1972 và nội dung tấm bia đá dựng tại Văn miếu Bắc Ninh “trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” dựng năm Nhâm Tý niên hiệu Duy Tân thứ 6 (1912) tháng trọng xuân (tháng 2) ngày tốt: “Văn miếu Bắc Ninh ở phía Đông Bắc tỉnh thành thuộc sơn phận xã Thị Cầu huyện Võ Giàng được tu bổ vào năm Gia Long thứ nhất (1802), làm lại năm Thiệu Trị thứ 4 (1844). Năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893) chuyển về núi Phúc Đức, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng”.

Như vậy Văn miếu Bắc Ninh được xây dựng trước thời Nguyễn (muộn nhất vào thời Lê). Đây là Văn miếu hàng tỉnh được xây dựng để thờ phụng và tế lễ “Đức Khổng Tử” người được tôn vinh là “Thánh sư” hay “Vạn thế sư biểu” và Tứ phối - các chư hiền của đạo Nho là Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử (các vị được phối thờ với Khổng Tử).

Theo nội dung tấm bia đá (bia bình phong) dựng giữa sân Văn miếu “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký” (Bia ghi việc trùng tu Văn miếu Bắc Ninh) dựng vào tháng trọng đông năm Mậu Thìn niên hiệu Bảo Đại thứ 3 (tháng 11 năm 1928) thì Văn miếu Bắc Ninh được tu sửa, tôn tạo lớn vào năm này: “Đến tháng ấy người giữ quyền phụ trách công việc là ông Án sát sứ Bùi Phát Tường lãnh đạo các con em nhà nghề cùng nhau trổ hết tài năng khéo léo nhất tiến hành, trăm việc đều được nghiên cứu chu đáo. Thế là lần lượt các công trình được mọc lên, điện cao gác uốn, hành lang lượn, tường thấp xây gạch bao quanh tất thảy có 11 toà thật trang nghiêm, đẹp đẽ”. Công trình kiến trúc Văn miếu lúc này gồm: Cổng Nghi môn, toà Tiền tế 5 gian 2 dĩ, 2 bên hồi Hậu đường là 2 toà Bi đình 5 gian 2 dĩ, 2 bên hồi Tiền tế là 2 toà tả vu hữu vu, tại sân chính giữa cổng Nghi môn và toà Tiền tế dựng bia bình phong.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), Văn miếu Bắc Ninh bị phá huỷ nặng nề, hệ thống bia đá bị vùi dập, thất tán. Sau ngày hoà bình lập lại Văn miếu được tu sửa, đến những năm cuối của thế kỷ XX chỉ có các công trình Tiền tế, Hậu cung, 2 toà tả vu hữu vu. Sau đó Văn miếu được phục dựng toàn bộ các công trình hoàn hảo như xưa vào những năm đầu của thế kỷ XXI.

Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia. Số 28 – VH/QĐ ngày 18/1/1988

- Nhân vật được thờ:

Văn Miếu thờ Khổng tử, tên huý là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh năm 551, mất năm 479 trước công nguyên. Ông là người huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, nước Lỗ, là người thông minh, ham học, tính ôn hòa, nghiêm trang, luôn đề cao lễ nhạc và đức hạnh.

Ông là vị tổ của Nho giáo, với một học thuyết triết học nhân sinh, chủ yếu dạy về đạo làm người, ổn định trật tự trong gia đình và xã hội.

Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng của Trung Quốc thời Xuân Thu, được tôn làm “Văn thánh” là bậc “Vạn thế sư biểu” và được xếp vào danh sách những nhà tư tưởng lớn trên thế giới. Giáo lý của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa giáo dục của Việt Nam. Chính vì thế từ xa xưa, các vị vua  triều trước đã cho dựng Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối và thất thập nhị hiền để tôn thờ từ đó đến nay.

Ngoài ra theo 12 tấm “Kim bảng lưu phương” dựng năm Kỷ Sửu niên đại Thành Thái tháng 10 (năm 1889), nội dung ghi chép về các khoa thi, họ tên, quê quán, học vị, chức tước của các vị đại khoa (từ Tiến sĩ trở lên) người Kinh Bắc xưa (bao gồm cả tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, một số xã của huyện Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội), Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc ngày nay).

27. Đình Phúc Đức

Theo các cụ cao niên trong làng thì đình được xây dựng từ thời Lê. Trải trường kỳ lịch sử đình đã được tu bổ tôn tạo nhiều lần. Thời kỳ Pháp thuộc, đình Phúc Đức là cơ sở cách mạng của cán bộ Việt Minh, bộ đội, dân quân. Năm 1947 đình bị phá hủy hoàn toàn. Năm 1996 xây dựng lại Đại đình theo kiểu thức truyền thống. Năm 2003 nhân dân địa phương mua lại tòa Hậu cung của Văn miếu Bắc Ninh dựng phía trước Đại đình tạo thành kiến trúc kiểu “Tiền chữ Nhất, hậu chữ Đinh”. Đến năm 1999 tu sửa, năm 2014 trùng tu toàn bộ đình theo dáng vẻ như hiện nay.

Đình đã được xếp hạng. Quyết định số 1626/QĐ-UBND, ngày 21/12/2012.

28. Chùa Cao Sơn

Chùa Cao Sơn là công trình văn hóa tín ngưỡng có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu đời. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, những biến động của xã hội và thiên nhiên, nhưng di tích vẫn luôn được nhân dân quan tâm bảo vệ, trùng tu, tôn tạo. Chùa đã có sư trụ trì, hàng ngày đèn nhang cúng phật. Đất đai di tích được xây tường bao bảo vệ để chống lại sự xâm lấn.

DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ CẤP QUỐC GIA

TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG VÕ CƯỜNG

STT

Tên di tích

Loại hình

Địa điểm

Xếp hạng

01

Chùa làng Xuân Ổ A

(Hồng Phúc tự)

Kiến trúc – Nghệ Thuật

Khu Xuân Ổ A, phường Võ Cường

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số: 100-QĐ/BT

Ngày: 21/01/1989

02

Đình làng Xuân Ổ A

Kiến trúc – Nghệ Thuật

Khu Xuân Ổ A, phường Võ Cường

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số: 100-QĐ/BT

Ngày: 21/01/1989

03

Đền làng Xuân Ổ A

Kiến trúc – Nghệ Thuật

Khu Xuân Ổ A, phường Võ Cường

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số: 100-QĐ/BT

Ngày: 21/01/1989

04

Di tích khảo cổ học chùa Lái

Khảo cổ học

Khu Xuân Ổ B, phường Võ Cường

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số: 100-QĐ/BT

Ngày: 21/01/1989

05

Đền (Nghè) Dương Ổ

Di tích kiến trúc nghệ thuật

Khu Dương Ổ

 

06

Văn miếu Bắc Ninh

 

Di tích kiến trúc nghệ thuật

Đại Phúc

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số 28 – VH/QĐ

ngày 18/1/1988

 

07

Đền thờ Nguyễn Phúc Xuyên

Di tích kiến trúc nghệ thuật

Đại Phúc

Xếp hạng cấp Quốc gia

Số 28 – VH/QĐ

ngày 18/1/1988

 

 DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ CẤP TỈNH

TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG VÕ CƯỜNG

STT

Tên Di Tích

Loại hình

Địa điểm

Xếp hạng

01

Chùa Xuân Ổ B (Nương Xá tự)

Lịch sử - Văn hóa

Khu Xuân Ổ B, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: 161/QĐ-CT

Ngày: 08/02/2002

02

Đình Xuân Ổ B

Lịch sử - Văn hóa

Khu Xuân Ổ B, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: 161/QĐ-CT

Ngày: 08/02/2002

03

Đình làng Hòa Đình

 

Lịch sử - Văn hóa

Khu Hòa Đình, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: 56/QĐ-UBND

Ngày: 18/01/2011

04

Đình làng Bồ Sơn

Lịch sử - Văn hóa

Khu Bồ Sơn, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: Ngày: 2007

05

Đình làng Khả Lễ

 

Lịch sử - Văn hóa

Khu Khả Lễ, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: 1489/QĐ-UBND

Ngày: 05/10/2009

06

Đền làng Hòa Đình

Lịch sử - Văn hóa

Khu Hòa Đình, phường Võ Cường,

Xếp hạng cấp tỉnh

Số: 161/QĐ-CT

Ngày: 08/02/2002

07

Nghè Thượng thần

Lịch sử - Văn hóa

Khu 1

Xếp hạng cấp tỉnh

số 161/QĐ-CT, ngày 08/02/2002

08

Đình Đông Thượng

Lịch sử - Văn hóa

Khu 4

Xếp hạng cấp tỉnh

Quyết định số 1294/QĐ-UBND, ngày 09/10/2006.

09

Nhà thờ chi thứ phái Tích Thiện Đường

Lịch sử - Văn hóa

Khu 4

 

10

Đình Diên Thọ

Lịch sử - Văn hóa

Khu 6

 Xếp hạng cấp tỉnh

số 119/QĐ-CT ngày 20/01/2004.

11

Đình Phúc Đức

Lịch sử - Văn hóa

Khu 10

Xếp hạng cấp tỉnh

số 1626/QĐ-UBND,

ngày 21/12/2012.

 

12

Chùa Cao (Chùa Linh Sơn)

Lịch sử - Văn hóa

Khu 1

 

13

Đình Đào Xá

Lịch sử - Văn hóa

Khu Đào Xá

 

Source: UBND phường Võ Cường